Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Từ một địa chỉ có được hơn 20 năm, tôi tìm Thầy.







Ai đã là học sinh của MĐ2 những năm mới thành lập trường từ 1982 – 1985, kể cả học sinh của Nam đàn cũ những năm 1979 – 1982 thì không thể quên được Người Thầy kính yêu -Thầy Trần Xuân Lĩnh, Thầy quê Nghệ tĩnh nhưng vì điều kiện công tác nên vợ con Thầy ở quê, Thầy sống ở Mộ đức với một cậu con trai nhỏ. Giờ Văn của Thầy chúng tôi nghe không biết chán.

Tôi đã có may mắn được Thầy chủ nhiệm ngay khi bước vào ngưỡng cửa của bậc PTTH, từ buổi đầu lơ ngơ đó lớp chúng tôi đã được Thầy yêu thương dạy dỗ không chỉ học chữ mà còn học làm người. Không riêng gì với lớp chúng tôi mà đối với tất cả học sinh trong Nhà trường tôi đều thấy Thầy tận tâm cả và chúng tôi gọi Thầy bằng hai từ trìu mến - Bố Lĩnh. 

Ngày ấy tình hình kinh tế khó khăn chung, Thầy và các Thầy cô giáo khác ngoài dạy học còn tăng gia làm ruộng, nuôi heo. Lớp chúng tôi cũng được canh tác cùng Thầy một mảnh ruộng nhỏ mà bây giờ là sân đá bóng của Nhà trường, làm việc vất vả, đôi khi thu hoạch không đạt nhưng Thầy luôn tươi cười động viên chúng tôi, tôi nghĩ rằng mình đã học được ở Thầy tính lạc quan trong mọi hoàn cảnh.
Điều bất ngờ lớn đối với chúng tôi là Thầy chuyển công tác về quê để đoàn tụ với gia đình vào năm 1985, hôm liên hoan tiễn Thầy chúng tôi đã khóc như mưa vì nghĩ rằng biết bao giờ gặp lại được Thầy, xa xôi quá. 

Về quê được một thời gian thầy có gởi cho tôi một lá thư kể rằng Thầy đang thất nghiệp vì người ta bố trí cho Thầy công tác ở một nơi rất xa gia đình mà Thầy không thể đi dạy được, Thầy nói Thầy sẽ tìm việc làm. Nhận thư Thầy tôi thấy thương Thầy quá, tôi có viết thư trả lời Thầy nhưng không có hồi âm, sau một thời gian thì tôi không viết nữa, nhưng trong lòng luôn lo lắng không biết Thầy sẽ như thế nào.

Tôi đi học chuyên nghiệp rồi ra trường, đi làm, lập gia đình rồi lo cho con cái, mới đó mà ngày tôi xa Bố Lĩnh đã hơn 20 năm. Khi chúng tôi lên kế hoạch Hội khoá 20 năm ngày ra trường, tôi đem nỗi băn khoăn muốn tìm Thầy tâm sự với chồng mình, trong đầu tôi chỉ có một địa chỉ hơn 20 năm tôi nhận thư thầy “ Đồng minh, Quỳnh lập, Quỳnh lưu, Nghệ tĩnh” thì biết tìm ở đâu đây, biết Thầy còn hay mất, chồng tôi động viên rằng cứ gởi thư theo địa chỉ cũ và ngoài bìa nên ghi thêm mong rằng ai nhận thư này nếu có thông tin gì về Thầy thì liên lạc theo số điện thoại tôi đã ghi lại. Tôi như một cái máy ghi đúng địa chỉ trong đầu trong khi hiện nay đã tách tỉnh rồi không còn Nghệ tĩnh nữa.

Thư đi khoảng 1tuần lễ tôi bất ngờ nhận được điện thoại lạ, nhìn mã vùng tôi vừa mừng vừa lo, mừng vì nghĩ là có thông tin về Thầy nhưng lo là không biết Thầy có còn không (thật đấy các bạn ạ, tôi cứ sợ điều không hay ấy xảy ra với Thầy), khi nghe Thầy xưng danh tôi đã bật khóc vì mừng và như các bạn đã biết , sau lần liên lạc ấy ngày Hội khoá 20 năm tốt nghiệp Khoá 83-86 chúng tôi Thầy đã về lại trường xưa sau 21 năm ẩn mình, các Thầy Cô cũ của Nhà trường đều hoàn toàn bất ngờ khi Thầy xuất hiện vì chính Nhà trường tìm Thầy nhưng vẫn không liên lạc được.

Xin chia xẻ thêm điều này để thấy rằng Thầy của chúng ta vẫn mãi là người Thầy đáng kính. Đó là sau khi tôi và Thầy thống nhất ngày giờ vào Quảng Ngãi và địa chỉ đón rồi thì Thầy và cô con gái Thầy sinh được sau khi về quê lên đường vào Quảng ngãi, tôi biết giờ đi nhưng Thầy không cho biết đi bằng phương tiện gì nên tôi không thể nào đón được Thầy, Thầy cũng không mang theo di động nên khi gọi về quê thì vợ Thầy cho hay Thầy đã vào đến Quảng Ngãi rồi nhưng tôi không thể biết Thầy ở đâu, chiều đó trong khi chuẩn bị cho buổi lễ ngày mai các bạn đã bắt đền tôi vì làm mất Thầy.

Vào khoảng sau 6 giờ chiều, bất ngờ Thầy điện cho tôi và nói tên Khách sạn Thầy ở. Khi tôi và bạn Sa đến, Thầy nói rằng Thầy không muốn chúng tôi bỏ việc cơ quan mà lo đón Thầy, Thầy muốn chúng tôi lo cho chồng con chu đáo rồi hãy đến tìm Thầy. Tôi nghĩ rằng chỉ có tấm lòng cao cả như Cha và con Thầy mới làm được như thế.

Hiện nay, Bố con tôi vẫn liên lạc với nhau thường xuyên, Thầy đã nghỉ hưu vào cuối năm 2010, tôi hy vọng rằng ngày kỷ niệm 25 năm của Khoá 83-86 sắp tới đây Thầy lại về với mái trường Mộ đức 2 thân yêu này, về với chúng tôi.

Nếu bạn muốn liên lạc với Thầy xin gọi theo số: 038 3 665324 hoặc 0976704769

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

Lý lịch 30 chiến hạm ‘gốc Việt’ trong Hải quân Philippines


Trước năm 1975, Mỹ đã viện trợ cho quân đội Sài Gòn hàng trăm tàu chiến lớn nhỏ. Sau này, qua các tài liệu cả chính thức và không chính thức, ít nhất 30 chiếc đã chạy sang Philippines và gia nhập hải quân nước này. Trong đó, khu trục hạm HQ 01 Trần Hưng Đạo là soái hạm của Philippines.
Trong số hàng trăm tàu chiến Mỹ viện trợ cho chính quyền Sài Gòn, chiếm đa số đều là các tàu cỡ nhỏ, số tàu tải trọng lớn còn lại, phần lớn là loại tàu tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ.
Có thể thống kê sơ bộ không dưới 30 tàu chiến các loại mà binh lính VNCH đã tháo chạy khỏi Việt Nam năm 1975 và Philippines đã trưng dụng cho lực lượng Hải quân của mình, gồm:
- 1 khu trục hạm Trần Hưng Đạo HQ 1 (chuyển thành BRP Rajah Lankandula-PS-4);

- 5 tuần dương hạm (WHEC):  Trần Quang Khải HQ 2 (thành BRP Diego Silang PS-9); Trần Nhật Duật HQ 3 (tuy được chuyển giao cho HQ Phi nhưng bị phế thải để lấy các cơ phận thay thế dùng sữa chữa cho các chiến hạm khác của HQ Phi); Trần Bình Trọng HQ 5 (thành BRP Francisco Dagohoy PF-10); Trần Quốc Toản HQ 6 (cùng số phận như HQ 3); Lý Thường Kiệt HQ 16 (thành BRP Andres Bonifacio, PF-7); Ngô Quyền HQ 17 (thành BRP Gregorio del Pilar PF-8);
- 5 Hộ tống hạm (PCE): Đống Đa II HQ 07 (thành BRP Sultan Kudarat PS-22); Chi Lăng II HQ 08 (thành BRP Magat Salamat PS-20); Chí Linh HQ 11 (thành BRP Datu Tupas PS-18); Ngọc Hồi HQ 12 (thành BRP Miguel Malvar PS-19); Vạn Kiếp HQ 14 (thành BRP Datu Marikudo PS-23).
- 5 Dương vận hạm (LST): Cam Ranh HQ 500 (thành BRP Zamboanga Del Sur LT-86); Thị Nại HQ 502 (thành BRP Cotabato Del Sur LT-87); Nha Trang HQ 505 (thành BRP Agusan Del Sur LT-54); Mỹ Tho HQ 800 ( thành BRP Sierra Madre LT-57); Cần Thơ HQ 801 (thành BRP Kalinga Apayao LT-516)
- 1 Cơ Xưởng hạm (ARL): Vĩnh Long HQ 802 (thành BRP Yakal AR-617)
 - 3 Hải vận hạm (LSM):  Hát giang HQ 400 (thành BRP Western Samar LP-66); Hàn giang HQ 401 (dùng lấy cơ phận); Hương giang HQ 404 (thành BRP Batanes LP-65)
- 3 Trợ chiến hạm (LSSL): Đoàn Ngọc Tảng HQ 228 (thành BRP La Union LF-50); Lưu Phú Thọ HQ 229 (HQ Phi dùng để lấy cơ phận thay thế sử dụng cho các chiến hạm khác); Nguyễn Đức Bổng HQ 231 (thành BRP Camarines Sur LF-48)
 - 3 Giang pháo hạm (LSIL): Thiên kích HQ 329; Lưu công HQ 330;  Tầm sét HQ 331
 - 2 Hỏa vận hạm (YOG), tức sà lan tự hành để chở dầu: HQ 470 và HQ 471
 - 1 Tuần duyên hạm (PGM): Hòn trọc HQ 618 (thành BRP Basilan PG-60)
Ngoài ra, còn một số tàu khác như trợ chiến hạm Nguyễn Ngọc Long HQ 230 BRP Sulu LF-49, HQ 474…
Trong số các tàu chiến lớn có hai tàu khu trục hộ tống lớp lớp Edsall là HQ-1 Trần Hưng Đạo và HQ-4 Trần Khánh Dư. Tàu lớp Edsall có lượng giãn nước 1.590 tấn, dài 93,3m. Tàu vũ trang 3 pháo hạm 76mm, 2 pháo phòng không 40mm, 8 pháo phòng không 20mm, 3 máy phóng ngư lôi 533mm, hệ thống cối chống ngầm.
Chiếc HQ-1 được Philippines sửa chữa nâng cấp (bỏ tháp pháo 76mm và thay bằng 2 tháp pháo 127mm) và chính thức đưa vào trang bị tháng 7/1976 với cái tên mới BRP Rajah Lakandula (PF-4).
Từ năm 1981-1988, BRP Rajah Lakandula trở thành soái hạm Hải quân Philippines. Con tàu chủ yếu tham gia nhiệm vụ tuần tra bảo vệ biển, thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển.
Năm 1988, con tàu loại ra khỏi biên chế hải quân và được sử dụng như doanh trại nổi vịnh Subic tới năm 1999 thì bị phá dỡ.
Trong biên chế Hải quân VNCH còn có 7 tàu chiến lớp Casco  được coi là những tàu lớn nhất. Thậm chí, VNCH còn gọi nó là “tuần dương hạm”, dù lượng giãn nước chỉ tương đương khinh hạm. Thực tế, trước khi chuyển cho VNCH, 7 tàu Casco được dùng cho lực lượng tuần duyên bảo vệ bờ biển Mỹ.
Tàu lớp Casco có lượng giãn nước 2.800 tấn, dài hơn 94m, thủy thủ đoàn gần 200 người. Hệ thống vũ khí hạng nhẹ: tháp pháo 127mm, pháo cối 81mm và súng máy.
Trong 6 chiếc lớp Casco, Philippines chỉ dùng 4 chiếc còn lại 2 chiếc được tháo dỡ lấy phụ tùng. Khinh hạm BRP Andres Bonifacio (PF-7) thuộc lớp Casco, tên cũ trong Hải quân VNCH là HQ-16 Lý Thường Kiệt.
Năm 1979, chính quyền Philippines quyết định hiện đại hóa toàn diện hệ thống vũ khí và điện tử và điện tử trên 4 tàu. Tàu lắp thêm pháo 20-40mm, thiết kế thêm sân đáp trực thăng ở đuôi tàu.
Tới cuối những năm 1980, Hải quân Philippines dự định trang bị thêm tổ hợp tên lửa hành trình RGM-84 Harpoon nhưng do khủng hoảng kinh tế nên không thực hiện được.
Giai đoạn 1991-1993 và năm 2003, cả bốn tàu lần lượt bị phá dỡ.
Hầu hết các tàu chiến cỡ lớn của VNCH trong Hải quân Philippines đều bị loại bỏ vào những năm 1990 nhưng vẫn có một số ít được hoạt động tới tận ngày nay. Tính đến năm 2012, chỉ còn 7 chiếc trong số này còn hoạt động trong biên chế hải quân Philippines, gồm: 
Dương Vận Hạm LST:

Zamboanga Del Sur LT-86, nguyên là LST Cam Ranh HQ 500.

BRP Cotabato Del Sur LT-87, nguyên là LST Thị Nại HQ502.

BRP Kalinga Apayao LT-516, nguyên là LST Cần Thơ HQ 801.

BRP Yakal AR-617, nguyên là Cơ xưởng hạm Vĩnh Long HQ802.
Hộ Tống Hạm PCE:
 
BRP Sultan Kudarat PS-22, nguyên là PCE Đống Đa II HQ 07.
 
BRP Magat Salamat PS-20, nguyên là PCE Chi Lăng II HQ 08.

BRP Miguel Malvar PS-19, nguyên là PCE Ngọc Hồi HQ 12.
Mặc dù đến nay đã ở tuổi ngoài 70 nhưng ba hộ tống hạm này vẫn chưa có dấu hiệu được nghỉ hưu

Một trong những tâm điểm của cuộc tranh chấp bãi cạn Scarborought/Hoàng Nham là căn cứ nổi do một tiểu đội Thủy quân lục chiến Philippines đồng trú để xác định chủ quyền của mình. Căn cứ này thực tế là xác Dương Vận Hạm LST Mỷ Tho HQ-800, sau năm 1975 được Philippines đổi tên thành  BRP LT-52 .
Phong Dao